Sep 21, 2013

Bật chế độ God Mode trong Windows 7/8

Đây là một trong những tính năng ẩn của Windows. Sau 1 ngày vật vã để sửa lại driver Windows 8, mình tình cờ phát hiện ra em này.

Chức năng: Liệt kê tất cả các chức năng cho phép và hợp pháp để chỉnh sửa, cấu hình trong Windows 7/8.
Thực hiện:
  1. Ra ngoài Desktop và tạo 1 thư mục
  2. Đối với Windows 7. Nhập tên thư mục như sau:
    GodMode.{ED7BA470-8E54-465E-825C-99712043E01C}
    Đối với Windows 8:
    GodMode.{ED7BA470-8E54-465E-825C-99712043E01C}
    Gõ xong phát hiện 2 cái này giống nhau :)). Kết quả sau đó ta được một thư mục liệt kê như sau:

Sep 19, 2013

Driver Wifi trên Windows 8

Vụ này không share không được, kể từ khi cài Windows 8 lên trên em Dell dòng Inspiron thì có hiện tượng mạng cực kỳ chậm và dễ gây ức chế kinh khủng. Đã vậy còn chập chờn.

Giải pháp là đây: Link download . Trong hàng tá cách, thì đây là cách đơn giản nhất, và là giải pháp hữu hiệu nhất. Xóa Driver cũ của Windows đi và cài cái mới này.
Chi tiết từng bước:
  1. Vào Control Panel - > Device Manager. Ta Click chuột phải vào Broadcom 802.11n rồi chọn Disable
  2. Sau đó chọn tiếp Uninstall
  3. sau khi xóa xong, Windows sẽ cố gắng tìm driver trong hệ thống để cài lại, và nếu nó cài thành công thì mọi chuyện vẫn hoàn cũ. Lúc này nhanh chóng cài driver mới tải kia về. Vậy là mọi chuyện được ổn thỏa.
  4. Trường hợp không tắt được dịch vụ tự tìm driver: ta click vào Properties của driver đó, chọn thẻ Driver chọn button Driver Details Trong đó liệt kê tất cả các file liên quan đến driver. Ta chỉ cần vào từng file rồi xóa. Sau đó cài lại driver mới.

Sep 5, 2013

Load ảnh từ OpenCV

Chào mừng năm học mới, thắng lợi mới nên mình sẽ viết một loạt series về opencv và một số kiến thức liên quan đến thị giác máy tính. Một phần để phục vụ việc học tập( ngâm cứu) của bản thân, một phần chia sẻ kiến thức với bạn nào có đam mê và muốn thử với lĩnh vực này.

Chủ đề của hôm nay. Mở đầu năm học bằng 1 công việc rất đơn giản: load ảnh dùng opencv.
Ngôn ngữ:C++, sẽ bàn một chút đến C và Python.
Để load 1 ảnh đã tồn tại trong bộ nhớ ngoài, ta dùng API imread.
Tham số của API này:
  • filename (const char*): đường dẫn đến file cần load.
  • flags (int): các tùy chọn khi load ảnh. Một số tham số hay ho:
    • &gt 0: Trả lại ảnh có 3 kênh màu. Kênh $ \alpha $ sẽ bị lược bỏ.
    • = 0: Trả về ảnh mức xám.
    • &lt 0: Trả về ảnh nguyên gốc.
imread sẽ trả lại là một đối tượng kiểu Mat. Nếu không thành công, kết quả trả về sẽ là một ma trận rỗng, tức Mat::data = NULL. Ta có thể dùng kết quả này để check xem file thực sự đã được load hay chưa. Bởi vì imread không có cơ chế exeptions nên khi có lỗi xảy ra, ta phải đợi đến các hàm xử lý tiếp theo (có exceptions hoặc assert) mới biết được. Điều này rất là bất lợi khi debug: ta cứ nghĩ ảnh đã được load vào, nhưng thực sự là chưa.
Sau khi load xong, công việc tiếp theo sẽ là show tấm ảnh đó ra màn hình. OpenCV hỗ trợ tốt tác vụ này với API: imshow. Tham số lần lượt của API này như sau:
  1. windows name (string): Tên của cửa sổ màn hình.
  2. image (Mat): biến lưu trữ ảnh đã được load
Đoạn mã ví dụ:

1
2
3
4
5
6
7
8
9
#include <opencv2\opencv.hpp>
using namespace cv;
int main()
{
    Mat img = imread("hello.png", 1);
    imshow("show image", img);
    waitKey(0);
    return 0;
}

Hàm waitKey có một chức năng nho nhỏ. Nó sẽ đợi người dùng nhấn một phím bất kỳ rồi mới thực hiện công việc tiếp theo. Tham số đầu vào là 0, mặc định là vậy. Lớn hơn 0 là số milisecond mà waitKey sẽ delay.
Tất cả các api vừa kể trên là của C++, OpenCV hỗ trợ cả ngôn ngữ C. Để tránh nhầm lẫn đáng tiếc( vì C/C++ là hai anh em rất là gần gũi nhau), nên các API kể trên đều nằm trong namespace cv. Còn các cấu trúc khác thuộc C sẽ có tiền tố CV đứng trước.
Vậy ứng dụng của đoạn code nho nhỏ này là gì? Một điều hay ho của các API bên OpenCV là nó cross-platform. Rinh qua bên Linux chạy ngon, và để Windows cũng tốt chán. Vì cái sự cross-platform đó, và vì đây là thư viện tập trung vào xử lý ảnh, nên số các API hỗ trợ user interface rất ít. Nhưng, nhưng ít ra, nó cũng đủ cho ta chế 1 tool graphic debug. :D
Ý tưởng:
  • Một cửa sổ Windows cho phép resize, đồng thời là 1 điểm breakpoint kiểm tra xem đoạn code của ta tới đó đã thỏa mãn chưa.
  • (Option): Click vào mỗi pixel sẽ trả về giá trị ở pixel đó.
Hướng giải quyết:
  • Việc tạo 1 của sổ cho phép resize ảnh không khó, việc tạo breakpoint đơn thuần là gọi hàm waitKey().
  • Việc đọc giá trị của pixel phụ thuộc rất lớn vào: số kênh của ảnh (1, 3), và kiểu lưu trữ của mỗi kênh đó (uchar, float, double, int)... Việc click để chọn vị trí pixel khá đơn giản. Tuy nhiên, hiện nay mình vẫn chưa có cách thỏa đáng nào (ngoại trừ việc if...else một đống các trường hợp và gọi từng hàm phù hợp.
Tạo một header file. ví dụ là debugtool.h có nội dung sau:
1
 2
 3
 4
 5
 6
 7
 8
 9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
#ifndef __DEBUGTOOL
#define __DEBUGTOOL

#include <cassert>
#include <opencv2/opencv.hpp>
void __clickevent(int evnt, int x, int y, int flags, void* params);
#ifdef NDEBUG
#define debug_img(img) 
#else
#define debug_img(img) {\
 cv::namedWindow("Debug:"#img, CV_WINDOW_NORMAL | CV_WINDOW_FREERATIO);\
 cv::setMouseCallback("Debug:"#img, __clickevent,(void*) &img);\
 cv::imshow("Debug:"#img, img);\
    cv::waitKey(0);\
 cv::destroyWindow("Debug:"#img);\
 }
#endif

#endif
Sau đó tạo file cpp tên debugtool.cpp có nội dung:
1
 2
 3
 4
 5
 6
 7
 8
 9
10
11
#include "debugtool.h"

void __clickevent(int event, int x, int y, int flags, void* params)
{
    if (event != CV_EVENT_LBUTTONUP) return;
    IplImage *iplImg = new IplImage(*(cv::Mat*) params);   
    assert(iplImg->imageData != NULL);
    std::cout << "(" << x << "," << y << "): " 
                << cv::Scalar(cvGet2D(iplImg ,x, y)) << std::endl;
    std::cout.flush();
}

Xong, giờ có thể dùng debug_img bất cứ đâu như 1 breakpoint kiểm tra 1 ảnh. Click vào pixe để xem các giá trị. :)

Aug 31, 2013

Nguyên tắc lập trình C/C++

Một số nguyên tắc lập trình trên C/C++ khá là hay, việc tuẩn thủ, hoặc làm theo những gợi ý được đề ra sẽ giúp lập trình viên tránh được một số "tính năng bất ngờ" mà C++ gây ra mà ta không lường trước được. Đồng thời giúp lập trình viên có thói quen làm việc hiệu quả hơn


  • Original Indian Hill guide with annotations by H. Spencer. PDF
  • Indian Hill C style guide, as amended at UofT, UW, and elsewhere. PDF
  • C++ coding rules from Ellemtel (Swedish Telecom) by Mats Henricson and Erik Nyquist. PDF
  • C++ style guide from Wildfire Communications. Link
  • C++ Coding Standard by Todd Hoff. Link.
  • C++ style advice called "The Tao of Coding" from Koen Witters.Link
  • The C Style Guide and Programming Guidelines from The C Kernel pages by Peter van der Vlugt.PDF
  • Words of wisdom from Henry Spencer and Geoff Collyer about the appropriate use of #ifdefs, a paper presented at the Summer 1992 Usenix conference.PDF
  • C Coding Standard.Link

Aug 25, 2013

Ép kiểu ngầm định - Implicit conversion

Một buổi chiều dẹp các chuyện linh tinh bên Windows Phone, mình lại có hứng thú viết về cu C++ dấu yêu. Lần này là 1 chủ đề rất là nhỏ: ép kiểu ngầm định (implicit conversion)

Vì sao gọi là nhỏ? Vì nó khá là cổ điển và ít được quan tâm nhiều lắm. Tuy nhiên để tìm hiểu tận gốc vấn đề thì cái này khá là hay ho.

Ép kiểu ngầm định từ T1 sang T2 xảy ra khi trong một biểu thức kiểu T1 được dùng trong ngữ cảnh nó không được chấp nhận, tuy nhiên, ngữ cảnh đó lại chấp nhận kiểu T2.

Ví dụ:

int b = 1.2 + 3.4;

Biểu thức ở đây có kiểu là float, nhưng ngữ cảnh của nó sử dụng lại là kiểu

int
. Và thế là chương trình phải làm một cái gì đó để chuyển đổi giữa kiểu float sang int, tuy nhiên điều này không được người lập trình đề cập, thành ra trình biên dịch sẽ tự làm âm thầm và đó chính là ép kiểu ngầm định .

Đọc cái này. Và ta cần highlight một số đoạn sau.

Standard conversions affect fundamental data types

Điều gì ở đây? Standard conversion và fundamental data types .Các kiểu dữ liệu cơ sở đã cung cấp sẵn một số ép kiểu, người lập trình không cần định nghĩa lại. Đồng thời, những phương thức ép kiểu đó đã được nâng lên thành chuẩn. Danh sách các phép ép kiểu chuẩn hóa có trong đây (tài liệu từ MSDN ).

the compiler can signal with a warning. This warning can be avoided with an explicit conversion.

Về cái sự ép kiểu ngầm định có thể xảy ra mất mát thông tin (thử ép biến i = 1000 sang char thì biết), compiler sẽ thông báo với ta về sự mất mát thông tin đó. Tuy nhiên, nếu sử dụng ép kiểu chỉ định (explicit conversion) thì điều này không xảy ra. Lý do? Vì khi đó người lập trình đã chấp nhận mất mát thông tin, bởi chính họ là người đã gõ dòng code đó vào.

Tip nho nhỏ: để bật chế độ kiểu tra ép kiểu ngầm định, dùng option -Wconversion , option -Wall không support chuyện này.

Ép kiểu ngầm định xảy ra khi từ T1 sang T2 khi:

  1. Một biểu thức là tham số đầu vào có kết quả trả về là T1 nhưng tham số lại yêu cầu kiểu T2
  2. Một biểu thức có toán hạng là kiểu T2.
  3. Khởi gán một biến có kiểu T2.
  4. Lệnh return trả về kiểu T2.
  5. Biểu thức dùng trong lệnh switch (với T2 là integral type)
  6. Biểu thức dùng trong các lệnh if và các lệnh lặp. T2 trong trường hợp này là kiểu bool

Đọc tiếp tài liệu bên cpp, ta highlight tiếp phần này:

Implicit conversions also include constructor or operator conversions

Ép kiểu ngầm định cho phép dùng contructor và toán tử ép kiểu để chuyển đổi. Vậy ngoài standard conversions ra, ta còn có cả user-defined conversions. Vì vậy, compiler sẽ có một số nguyên tắc nhằm chọn ra phép biến đổi nào cần dùng:

  • Khi T2 là tham số của constructor hay của hàm chuyển kiểu do người dùng định nghĩa (user-defined conversion function) thì compiler sẽ ưu tiên cho standard conversion
  • Khi T2 và T1 đều là built-in types thì compiler sẽ ưu tiên standard conversions.

Tham khảo:

  1. Implicit cast in cppreference
  2. cplusplus
  3. MSDN

Khắc phục lỗi không tương thích gVim và iBus trong Linux.

Một vấn đề làm đau đầu mình mấy tháng nay đó là cu GVim không gõ được tiếng Việt nếu dùng iBus. Điều lạ lùng là em ý lại chạy ngon lành trên Windows mới ác(trên Win thì dùng UniKey). Sau một ngày rãnh rỗi không biết làm gì, mình đã tìm ra được nguyên nhân.

  1. Đối với Vim/GVIM. Đảm bảo rằng hỗ trợ utf-8 đầy đủ. Có thể tham khảo ở đây.
  2. Đối với cu Ibus, trong phần preference, tick bỏ mục Embed predict text in application windows..
Nguyên nhân, do mình suy đoán là lỗi không tương thích giữa phần popup các của gVim (chức năng intellisense) với phần predict text của cu iBus.

Aug 21, 2013

Bisection method


Tình cờ *học lại* môn nhập môn lập trình bên MIT, thực ra đó là khóa Introduciton to Computer Science. Thuật toán này không có gì mới lạ, nhưng ứng dụng của nó khá là hay ho.

Bài toán: Tìm căn bậc 2 của 1 số thực dương cho trước.

Phân tích một cách thông thường, ta sẽ đi tìm nghiệm của phương trình: x^2- a = 0. Với a nhập từ bàn phím. Bài toán quay về tìm nghiệm của phương trình trên.

Có 2 phương pháp chính ở đây được giới thiệu là bisection method và Newton method, cả 2 phương pháp này khá là dễ hiểu. Và nếu tìm hiểu trên wiki, ta sẽ thấy 2 giải thuật trên là nền móng cho kha khá cả giải thuật khác.Link

Bisection method

Tư tưởng của Bisection khá là dễ hiểu: cho một hàm $f$ liên tục, nếu ta biết được răng $f(a)f(b) < 0$ thì đâu đó trong đoạn [a, b] có một giá trị x để f(x) bằng 0. Dĩ nhiên, mấu chốt vẫn là $f$ phải liên tục. Ta tiếp tục thu nhỏ khoảng $[a,b]$ này lại cho đến khi nào giá trị tìm được của a hoặc b cho $f(x) = 0 $ hoặc khoảng cách a và b nhỏ hơn 1 epsilon nào đó. Để làm điều đó, ta xét giá trị c: $ c = \frac{a+b}/2 $. Nếu f(c) = 0, thì c là số cần tìm, còn nếu $f(c) < 0 $ thì chắc chắn giá trị cần tìm ở đâu đó trong đoạn [c, b]. Ngược lại nếu $f(c) > 0$ thì giá trị x trong khoảng [a, c]. Cứ tiếp tục vậy.

Đoạn code thử nghiệm

1
 2
 3
 4
 5
 6
 7
 8
 9
10
11
12
13
14
15
def bisectionMethod(x, epsilon):
    """ Find square root of x with epsilon
    """
    assert x > 0
    assert epsilon > 0
    low = 0
    high = max(x, 1)
    value = (low + high) / 2.0
    loop = 0
    while (abs(value**2 - x) > epsilon ):
        if ((value**2-x) < -epsilon): low = value
        elif ((value**2-x) > epsilon): high = value
        value = (low + high) / 2.0
        loop += 1;
    print "Bisection method: Value:", value, ". Loop: ", loop

Newton method

Tư tưởng của phương pháp này dựa vào công thức tính đạo hàm của 1 hàm số:

\[ f'(x_1) = \frac{df(x_1)}{dx} \approx \frac{f(x_1) - f(x_2)}{x_1-x_2} \]

\[ x_2 = x_1 - \frac{f(x_1)}{f'(x_1)} - \frac{f(x_2)}{f'(x_1)} \]

Vì $f(x_2) = 0 $ nên :

\[ x_2 = x_1 - \frac{f(x_1)}{f'(x_1)} \]

Tổng quát hóa:

\[ x_n = x_{n-1} - \frac{f(x_{n-1})}{f'(x_{n-1})} \]

Đoạn code thử nghiệm:

1
 2
 3
 4
 5
 6
 7
 8
 9
10
11
def newtonMethod(x, epsilon):
    """ Newton method
    """
    assert x > 0
    assert epsilon > 0
    value = x
    loop = 0
    while (abs(value**2 - x) > epsilon):
        value = value - (value**2-x)/(2.0*value)
        loop += 1
    print "Newton method. Value: ", value, ".Loop: ", loop

So sánh 2 phương pháp:

1
 2
 3
 4
 5
 6
 7
 8
 9
10
def test(x, epsilon):
    assert x > 0
    assert epsilon > 0
    bisectionMethod(x, epsilon)
    newtonMethod(x, epsilon)
    print
test(100, 0.2)
test(10000, 0.0000002)
test(123456789,0.0000002)
test(0.25, 0.00002)

Ta nhận thấy phương pháp Newton tốt hơn so với Bisection. Tuy nhiên, với phương pháp Newton, chọn giá trị khởi đầu như thế nào sẽ là một vấn đề quan trọng.


Aug 13, 2013

Thủ thuật VIM.

Có rất nhiều cách khác nhau để thao tác trong VIM, quan trọng là công việc đó khiến ta nhanh đến mức nào. Dưới đây là cơ số các thủ thuật, kinh nghiệm của mình khi tìm hiểu và lập trình dùng VIM.


  1. Chọn nội dung của 1 tag trong HTML/XML: vit. Dịch sang tiếng việt: chuyển sang chế độ visual (v), chọn nội dung trong (in - a) tag (t) hiện thời. Thay i thành a ta chọn cả nội dung và cả tag mà nó chứa.
  2. Tự động canh lề cả file text: gg=G. Nhìn đẹp như vậy nhưng cũng có ý nghĩa của nó: gg để di chuyển đến đầu file. = dùng để tự canh lề và G là thực hiện đến cuối file.